11 tháng 4, 2008

Biệt Ly


Bài xã luận
Biệt Ly
Net đến VN năm 97, thập niên đầu của thế kỷ 21 là sự phát triển bùng nổ công nghệ này. Ở hai đầu địa cầu cách xa vạn dặm, hàng chục ngàn hải lý, mọi thông tin đều có thể diễn đạt cặn kẽ, quãng diễn rộng sâu từng chi tiết một, mức độ nhanh nhạy đến trong chớp mắt, phương tiện liên lạc sẵn sàng mọi nơi mọi lúc liên lạc liên miên nên không còn khái niệm ly biệt. Trước đây có thời gian dài nhiều cuộc biệt ly: bên Đức chia cắt đông tây, Triều Tiên bắc nam đứt đoạn giống VN trước đây. Hồi 75 nhiều cuộc chia ly đột ngột vội vã đến không kịp một lời từ giã. Thời gian dài nhiều người cùng gia đình khát khao đến cháy lòng được một lần gặp gỡ, ước mong dải ngân hà làm cầu Ô Thước kết nối Ngưu Lang Chức Nữ: từ Nữu Ước Hoa Thịnh Đốn về hội ngộ cùng Sàigòn Hànội. Quãng vài chục năm dài ròng rã rồi phép lạ nhiệm mầu xảy ra như chuyện thần thoại. Các hãng hàng không là cầu nối đua nhau chở bà con từ hải ngoại xa xôi về thăm thân nhân, mừng mừng tủi tủi tay bắt mặt mừng, người trong gia đình lại cùng sống chung với nhau dưới một mái nhà hàng tháng ròng. Như con mưa dầm chờ mong sau bao ngày nắng hạn, không chỉ một mà nhiều chuyến gặp gỡ làm dịu mát nỗi niềm, ấm áp tình cảm, những năm qua bao người đã thỏa lòng mong ước.
Nhưng không phải ai cũng đạt được niềm hạnh phúc lớn lao nầy, cá biệt một số trường hợp... Sau năm 45, ông nọ học tập cải tạo xa nhà lâu năm, tiếp đến năm 54 vợ và các con di cư còn ông kẹt lại miền bắc: Năm 75 ông vô nam tìm thì gia đình đã di tản ra nước ngoài. Mấy chục năm sau hoàn cảnh đổi khác trong chiều hướng tốt đẹp hơn, vợ con quay về VN kiếm và tìm cách rước ông quá thì tiếc thay, ông đã mất cách đó không lâu. Khi còn sống, ông biệt ly người thân 50 năm: đây cũng là khoảng thời gian tương đương các gia đình bên Triều Tiên, thập niên 50 chia cắt nước này thành hai miền nam bắc giống VN vậy, nhưng VN có duyên hơn là chỉ 20 năm sau hai miền lại trùng phùng hội ngộ. Gần đây các phương tiện truyền thống vẫn nói hoài hoàn cảnh những người ruột thịt, cùng gia đình cùng huyết thống bên Cao Ly, hơn nữa thế kỷ qua chưa thỏa nguyện. Chia tay hồi còn trẻ hoặc thơ ấu, nguyện vọng của những người cao tuổi này là trước khi xuôi tay nhắm mắt được một lần gặp lại nhưng xem ra khó khăn quá chừng...
Những cuộc biệt ly trên đây xảy ra do hoàn cảnh lịch sử của các dân tộc. Song thế gian lại có muôn cuộc chia xa không do lịch sử. Nhiều hoàn cảnh éo le lạc mất nhau dài lâu thực sự ngoài đời đã được chuyển thể đưa vào các lãnh vực nghệ thuật như màn bạc, thơ văn nhạc kịch... Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau chia ly. Không có niềm vui nào như niềm vui đoàn viên. Đây là thông điệp của chương trình nhân đạo xoay quanh chủ đề Chia Ly, có cả ủy ban tìm kiếm phối hợp cùng các ngành khác. Những cuộc đoàn tụ được trình chiếu trực tiếp trên màn ảnh nhỏ làm xúc động hàng triệu con tim, biết bao người thổn thức rơi lệ... (Xem lại chi tiết qua
http://www.timnguoithan.vn/)
***
Những điều trên đây to tát quá, hoành tráng quá, là việc đại sự quốc gia, vang dội toàn đất nước và lan tỏa khắp thế giới khi được trình chiếu trên VTV4, kênh truyền hình hướng về hải ngoại.
Trong hoạt động xã hội nhỏ bé của mình, DY biết một số trường hợp quanh đây, các em còn ít tuổi, không phải thất lạc mà cố tình đi lạc, lang thang bụi đời... Với khả năng và phương tiện truyền thống khiêm tốn, DY cùng những người khác phối hợp dò hỏi liên lạc tìm kiếm rồi khuyến dụ được một số em quay về. Các em còn nhỏ dại, cạn nghĩ, chưa đủ ý thức. Có em khi về đoàn tụ gia đình xong, nghĩ thật thương mà cũng đáng giận nữa, em vẫn chưa biết chữ dù đã bước sang tuổi 14. Lại phải tìm cách đưa em đến trường...
Đức Yên, April.11.2008

9 tháng 4, 2008

Gia Mộ...

...Vấn đề trăm tuổi là việc nghĩ đến hàng ngày. Quay lại nhìn lớp 20 trẻ trung mạnh khỏe, chúng ta nhớ trước đây từng trải qua giai đoạn vậy. Ngày xa xưa gặp buổi nhiễu nhương loạn lạc, ước mong tránh được làn tên mũi đạn, an bình đến nay, cuộc đời trôi hoài chúng ta dần bước sang tuổi già. Tám chín mươi ọp ẹp quả điều không ai muốn, sống hơn phân nửa con số một trăm được gọi "cây cao bóng cả" rồi nghĩ chuyện về sau là vừa. Đâu đây vẫn ai đó mong sống thiên thu mãi mãi, cuộc đời chắc tươi đẹp nhiều, còn đa phần gần xa đều nghĩ chuyện mai sau.
Trước kia hỏa táng là điều dễ sợ lắm, thật khó nghĩ, khó lòng chấp nhận. Dần dà nhận thức khác đi nhiều người thay đổi não trạng. Chết đằng nào cũng là mất rồi, không còn tồn tại trên cuộc đời nầy, (mặc dầu nhiều người vẫn luôn sống, luôn hiện diện trong tâm tưởng người ở lại, thiết tha, mãnh liệt). Tử cất tồn còn: chết xong an táng điều tự nhiên, bên cạnh đó hỏa táng vẫn có điểm tích cực: nhanh gọn sạch sẽ, không trải qua những giai đoạn phân hủy dài lâu, không tốn đất để làm phần mộ v.v... Tro bỏ vào hũ gọn gàng, cất đặt nơi thích hợp. (Có điều hỏa táng không còn hài cốt để làm xương thánh, trong trường hợp sau này được phong lên bậc hiển thánh!)Ở Mỹ qua đời, an táng mộ phần xong là 7 ngàn, tấm bia 5 ngàn (khó hiểu sao bia lại có giá này): trước sau khoảng 15 ngàn. Vị chức sắc, danh giá như cha Chỉnh là 30, bà con bên đó về cho biết rõ ràng như vậy.
Vẫn nợ em Hoàng một điều: em muốn bác viết để post lên báo điện tử. Khi nào bác nói chút ít về Châu Sơn đi. Nhân đây vắn tắt kể em và mọi người cùng nghe chuyện nghĩa trang. Không còn là nơi u ám buồn bã cô quạnh thê lương nữa, nghĩa trang Châu Sơn giờ đây được sửa sang, xây cất khang trang với vườn hoa và tiểu công trình nghệ thuật nom giống công viên hơn là nơi an nghỉ. Hệ thống điện nước đèn chiếu sáng đều khắp. Giao nguyên đoàn thanh niên tráng niên chuyên trách coi sóc, họ luôn làm sẵn một số kim tĩnh (phần xây dưới đất), trong xứ hễ ai qua đời đương nhiên có phần mộ. Không riêng lễ linh hồn, khoảng vài ba tháng lựa lúc trời chiều nắng đẹp các cha hay đến đây dâng lễ, quy tụ được hầu hết bà con trong xứ, nô nức như ngày hội, hương hoa liên miên người đến viếng.
Học sinh cùng lớp mặc đồng phục gọn gàng trang nhã nom vẫn đều và đẹp hơn người giản dị, kẻ lại diện lòe loẹt. Nghĩa trang cũng vậy. Thiết kế ngay hàng thẳng lối, mỗi phần mộ dài 2m + rộng 60cm + cao 60cm đều răm rắp ngăn nắp gọn gàng. Trước kia tô xi măng, sau này ai nấy đều sửa sang tu bổ, xây lại ốp lát gạch men, kích thước được tôn trọng là điều căn bản, không cao lên hoặc rộng dài hơn quy định. Có những mộ được xây giữa thế kỷ 20, trước quy hoạch rất lâu, hoành tráng lô nhô cao thấp, chiếm nhiều diện tích chung quanh lẫn không gian bên trên. Được xứ khích lệ làm lại đồng đều với mọi người, bà con phấn khởi hưởng ứng nên vẻ mỹ quan càng được điểm tô. Từ ngoài nhìn vào toàn cảnh thật thanh thoát.



Không xa khu dân cư nhiều, vị trí đẹp, thuận tiện, gần gũi, nghĩa trang nằm phía sau nhà thờ... Nửa thế kỷ qua chôn hết phân nửa diện tích rồi. Khi mới lập nghĩa trang xứ chưa quy cũ, khá lộn xộn nhất là vùng mộ trẻ em rải rác đó đây, để quy tập lại, xứ tổ chức làm gia mộ. Xây hai dãy giống hai bức tường sát bờ rào ngay bên cổng ra vào, để tiết kiệm đất, là tiểu công trình nghệ thuật, sau khi đổ móng, GIA MỘ được xây cao lên 2m, dài 10m, chiều rộng 80cm, chứa được 360 chỗ. Nếu chưa hiểu rõ, hay mường tượng thêm đây là chiếc tủ dài rộng, được phân chia nhiều ô nhỏ như ô thuốc bắc... Chôn cất lâu năm khi đào lên xương cốt rã rời tách ra hết, người ta dễ dàng sắp xếp bộ hài cốt gọn gàng vào tiểu nhỏ, kích thước giống hệt nhau, rồi cải táng vào các "ô thuốc bắc" đó. Thân nhân mỗi mộ phần và xứ cùng đóng góp xây dựng thật đẹp: phía trên gia mộ là mái ngói uốn cong chạm trổ mỹ thuật nom giống cung đình Huế, lại giống chuồng nuôi chim bồ câu vậy. (Bồ câu là loài kén chọn, tổ có đẹp chúng mới chịu vào.) Cải táng vào gia mộ được sánh với lên ở nhà lầu, cao ráo, sang trọng hơn nằm đất.

Phải hết lòng khen ngợi người đầu tiên có được sáng kiến này: nghe đâu phỏng theo mô hình các nơi làm trước đó.


Giờ phút này gia mộ là 2 bức tường nằm 2 bên cổng chính nghĩa trang, mỗi bức dài 10 mét, rộng 80 centimet, xây cao 2 mét: 2 gia mộ cải táng được đến 360 hài cốt. Hiện còn rất nhiều "ô thuốc bắc" đang bỏ trống chưa dùng đến.

Khoảng dăm bảy chục năm hay cuối thế kỷ này, chúng ta những người còn sống hôm nay, hẳn đã mất nhiều năm, lại được đời cháu chắt xây thêm gia mộ khác để cất vào, lấy chỗ chôn cất những người kế tiếp. Đây là việc của thế hệ sau, chúng ta chỉ nghĩ vậy thôi.

Thứ tư 9/4/2008
Đức Yên

2 tháng 4, 2008

Hè Quê Ngoại…


Mang tiếng sống chung một dải đất lại cùng ở miền Tây: Tây nguyên Tây nam, nhưng thật họa hoằn mới sang bên An Giang. Sàigòn là trung tâm điểm, ngược lên Daklak 300 cây, quãng đường tương tự vậy xuôi về thị xã Châu Đốc. Có người thân quen một thời xa xưa ở đó, cuộc sống bộn bề, liên miên trong tâm khảm vẫn nhớ miền quê xa vời vợi này. "Hè Quê Ngoại" là dịp tận mặt thấy vùng biên cương với đoàn làm phim thực hiện tác phẩm điện ảnh cùng tên.
Theo bước chân Trúc cháu ngoại ông Tám về thăm thị xã Châu Đốc. Từ bến xe miền tây, Sàigòn xuống An Giang đường nhựa dài vun vút đi qua chiếc cầu hiện đại nhất nhì vùng đồng bằng sông Cửu Long. Long Xuyên thành phố tỉnh An Giang. Châu Đốc miền quê sông nước, nhà cậu Năm cách chợ không xa, cậu đãi món cá lóc nướng trui, dọn trong mấy tàu lá chuối rửa sạch, ngồi bệt xuống đất chấm muối ớt thưởng thức ngon lành. Nếu khát đã có nước mưa chứa trong lu, múc bằng gáo dừa.
Nơi đây gặp Siêng là cậu bé mồ côi hiếu học, ngày ngày ngoài giờ đến trường, cậu chăn bò cắt cỏ, vác hàng thuê đổi lấy bát cơm sách vở. Đêm đêm ngủ chòi ngoài đồng, lấy rơm ủ ấm thay chăn mền. Mỗi ngày đến trường cậu vượt qua cánh đồng vắng xa xa, lớp học mái tranh vách lá, thầy giáo bộ đội, học sinh lẫn lộn gồm cả người Kinh lẫn Khmer.
Khi rảnh Siêng dẫn Trúc đi câu cá ngoài ao hồ, cần câu mượn của ông già Miên quê mùa tốt bụng. Mồi là trứng kiến trắng trong béo ngậy bắt sẵn để trong ống lon. Mỗi lần cá cắn câu cả bọn rất vui. Vùng Đông Nam Á, không chỉ đàn ông Malaysia mặc váy, nam giới Khmer trùm khăn, bận xà rông tương tự vậy. Bơi lội xong, hai đứa về lại chòi tranh ông già Miên, ông đãi món khoai mì luộc nghiền nát, bánh tráng cuốn trộn rau sống lẫn mạch nha, mỡ hành nước mắm xào lên làm gia vị.
Dân miền Tây hào phóng hiếu khách, hễ ai đến hay đãi nhậu, cá là đặc sản, rồi bò hấp bò óc... Rất dân dã, tiệc thường chiêu đãi ngoài vườn hoặc ngồi bệt dưới đất trước thềm nhà.
Vùng Thất Sơn (Bảy Núi) nhiều rắn độc, hễ ai gặp nạn đều nhờ ông Sáu Trị ra tay cứu giúp. Ông Sáu có thuốc gia truyền hòa nhựa bông đắp lên: rượu thuốc bó vào vết thương, tụ máu bầm băng bó lành dần. Hổ đất là loài rắn độc, cắn từ mắt cá chân trở xuống. Thường khi hổ đất hiền lành nhưng ai vô tình dẫm phải nó trở nên hung dữ, liền phản ứng là cắn. Người ta cõng nạn nhân về để ngoài vườn, kỵ đưa vô nhà. Thuốc giã rít lại vết thương...
Lịch sử An Giang gắn liền với tên tuổi Nguyễn Văn Thoại, gốc Quảng Nam, nhiều thế kỷ trước xuống khai khẩn vùng Châu Đốc và Hà Tiên. Thoại Ngọc Hầu chỉ huy đào kênh lớn ở vùng này, vợ là Châu thị Tế. Về sau để tưởng nhớ công ơn, người ta đặt tên kênh Vĩnh Tế. Chùa Tây An cạnh đó, hàng năm diễn ra Vía Bà, tham dự có cả người mình lẫn nước ngoài. Danh lam thắng cảnh vùng Bảy Núi. Bệ đã hành hương nghi ngút. Đền Bà Chúa Xứ lên khá nhiều bậc...
Theo con dốc thoai thoải đi xuống khoảng hai cây số có một chỗ bằng phẳng, bày hàng bán quán không khác gì chợ. Tịnh Biên là vùng biên giới: bên đây Châu Đốc bên kia Campuchia, ranh giới cách nhau bởi một hàng cây mỏng manh. Dọc theo đó có cây cầu biên giới, chợ biên giới. Dân Campuchia hẳn hào phóng vì một quả cam cũng đem chia (!?)... Campuchia còn gọi là Khmer hay Cao Miên, gọi tắt là Miên. Sang đất Miên, nhà sàn, xà rông, khăn trùm đầu là hình ảnh đặc trưng dễ bắt gặp nhất. Gặp nhau, họ chắp tay vái sâu đầu cúi chào. Đạo Phật phát triển. Vùng biên cương nổi tiếng có Chùa Hang. Sư sãi Campuchia và những ngôi chùa Khmer cổ kính. Con trai Miên tuổi thiếu niên bắt buộc phải đi tu chùa 3 năm, sau đó tiếp tục hay không tùy ý. Châu Đốc và vùng biên giới điển hinh nhất có cây thốt nốt, dùng làm nước giải khát hoặc nấu đường. Những lồng bè nuôi cá điêu hồng, cất nhà ngay trên vùng sông nước, muốn đến đó phải dùng xuồng. Trẻ em nơi đây giỏi bơi lội, câu cá, bắt cua, tưới khoai, chèo xuồng...
Đức Yên, April, 2nd, 2008